Tri thức Việt Nam dưới chế độ cộng sản

Ở nước ta ngày nay, có khá nhiều người được xã hội xem xét, hoặc bản thân họ, là trí thức. Nhưng “trí tuệ là gì?” Dường như không bao giờ giải thích rõ ràng. Có thể có nhiều trí thức, nhưng những cá nhân này đã tập trung (chủ yếu qua các diễn đàn, ý kiến ​​công chúng) vào một tầng lớp xã hội như những người trí thức? Đặc điểm và đặc điểm của trí thức Việt Nam là gì? Vai trò và trách nhiệm của trí thức trước số phận của nhân dân chúng ta trong kỷ nguyên mới – kỷ nguyên của nền kinh tế tri thức, kỷ nguyên hội nhập toàn cầu, là như thế nào?

Mỗi câu hỏi trên đặt ra một cuộc thảo luận rất nghiêm túc và thú vị là điều quan trọng để huy động sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân trong quá trình đổi mới, hội nhập và phát triển. . Để đi đến sự đồng thuận phải mất thời gian. Ở đây chúng tôi chỉ hỏi câu hỏi và đề nghị mở, hy vọng độc giả đọc với nhau.

Trí tuệ là ai? Trong một thời gian dài, có một khái niệm đơn giản ở nước ta: Công nhân trí tuệ là trí thức, chỉ để phân biệt mình với người lao động chân tay như công nhân và nông dân. Một ý tưởng đơn giản hơn là tất cả những người có trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên là trí thức. Trong tác phẩm “Modifying Work” năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng định nghĩa này. Theo tôi hiểu, ông đã cố tình giải thích khái niệm này (cũng như một số khái niệm khác) một cách rất đơn giản, dễ hiểu, phù hợp với trình độ học vấn của nước ta vào thời điểm đó. Hôm nay, chúng ta không nên quá cẩn thận khi giữ định nghĩa này của Bác Hồ.

Quan niệm về trí thức trên đây là phổ quát đến với các xã hội văn minh cận, hiện đại. Riêng ở nước ta, từ khi có lịch sử thành văn cho đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945, quan niệm này có lẽ chỉ thích hợp trong một giai đoạn phát triển ngắn ngủi, từ đầu đến giữa thế kỷ 20, khi xuất hiện tình huống giới trí thức mới (dùng chữ quốc ngữ) có cơ hội trở thành một tầng lớp xã hội khá độc lập với chính quyền về hoạt động nghề nghiệp và chính kiến. Ngoài giai đoạn này, chúng tôi e rằng chưa bao giờ ở nước ta thực sự có một tầng lớp trí thức như cách hiểu thông thường của thế giới.

Thường ở ta, trí thức được gán một cách không đúng cho những người gọi là “có học”, chỉ xuất hiện ở xã hội Việt Nam ở buổi đầu công nguyên từ khi nhà Hán du nhập Nho giáo vào Việt Nam với mục đích giáo hóa và đào tạo quan lại bản xứ. Sau khi giành được độc lập vào năm 939, các triều đại phong kiến ngày càng tôn sùng Nho giáo; và đến đời nhà Trần (thế kỷ 13) thì Nho giáo đã được coi là hệ tư tưởng chính thống cho đến hết các triều Nguyễn (đầu thế kỷ 20). Suốt gần một nghìn năm ấy chỉ có một thứ được dạy và được học (một cách có hệ thống) là Nho giáo (khác với sự chuyên biệt hạn hẹp của Phật giáo và Đạo giáo). Các Nho sĩ sau khi đỗ đạt sẽ được bổ nhiệm làm các quan lớn, nhỏ trong hệ thống cai trị của Nhà nước phong kiến. Các Nho sĩ thi trượt thì trở lại làng quê vừa dạy “chữ thánh hiền” như một kế sinh nhai, vừa “dùi mài kinh sử” đợi kỳ thi sau, đợi được đi làm quan để “cả họ được nhờ”!


Kinh tế xã hội năm 2017 có khởi sắc và tiến bộ

Sáng nay (12-10), Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã có ý kiến về báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và ngân sách nhà nước năm 2017; kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, dự toán ngân sách nhà nước và kế hoạch phân bổ ngân sách trung ương năm 2018.

Đạt được và vượt qua nhiều chỉ số khó

Theo báo cáo của Chính phủ, trong số 13 chỉ tiêu kế hoạch được Quốc hội giao, 8 mục tiêu dự kiến và 5 mục tiêu đã qua.

Đáng chú ý là mục tiêu tăng trưởng kinh tế, tốc độ tăng trưởng GDP năm 2017 là khoảng 6,7%, đạt được mục tiêu. Đây là một nỗ lực lớn của Chính phủ và các cấp, các ngành trong bối cảnh nền kinh tế đang chuyển đổi mô hình tăng trưởng, giảm dần việc khai thác các nguồn lực, đặc biệt là dầu thô và chuyển sang công nghiệp chế biến. sản xuất và dịch vụ làm nòng cốt.

hó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu cũng đánh giá cáo những kết quả đạt được như báo cáo của Chính phủ, nhất là việc lần đầu tiên trong những năm gần đây đạt và vượt 13/13 chỉ tiêu đề ra, trong đó có chỉ tiêu khó như tăng trưởng, tổng mức đầu tư toàn xã hội và ngay cả vấn đề độ che phủ rừng… Báo cáo cần lý giải yếu tố, điều kiện dẫn đến kết quả trên qua những luận cứ, thực tiễn để trình Quốc hội.

Ông Uông Chu Lưu cũng đặt vấn đề cần phân tích yếu tố, nguồn lực để đảm bảo tăng trưởng 6,7% cả năm, rồi nói nông nghiệp, lâm nghiệp, du lịch tăng trưởng nhưng giá trị tuyệt đối đóng góp vào ngân sách là như thế nào để từ đó lý giải thuyết phục về quyết tâm đạt mục tiêu tăng trưởng.

Chủ nhiệm Uỷ ban Tư pháp Lê Thị Nga cũng đánh giá, Chính phủ vừa giải quyết nhiều vấn đề lớn mang tính vĩ mô và cũng quan tâm xử lý nhanh vấn đề cụ thể được dư luận quan tâm, nhân dân bức xúc, như chấn chỉnh việc cấp biển số xanh cho doanh, đóng cửa rừng, chấn chỉnh khai thác cát sỏi, tinh giản biên chế ở một số bộ, xử lý 12 dự án thua lỗ; đẩy mạnh điều tra, tuy tố, xét xử nhiều vụ án lớn.

Thanh tra rồi thì phải có kết luận

Nhấn mạnh cần tiếp tục đẩy mạnh thực hiện, công khai vi phạm, không có vùng cấm để tác động nâng cao lòng tin của nhân dân, Chủ nhiệm Uỷ ban Đối ngoại Nguyễn Văn Giàu cũng thẳng thắn nêu quan điểm, việc thông tin về những vấn đề xã hội cũng cần nhiều, trúng và đúng để dư luận rõ. Ví dụ các dự án BOT giao thông đường bộ phải đánh giá mặt được, sự nỗ lực của doanh nghiệp nhưng cũng cần chỉ ra khuyết điểm trong quản lý. Điều này người dân và doanh nghiệp dễ chấp nhận nhưng với điều kiện chúng ta phải cung cấp đầy đủ thông tin và minh bạch.

Đề cập vấn đề thanh kiểm tra, Chủ nhiệm Uỷ ban Tư pháp Lê Thị Nga cho biết, có nhiều đánh giá việc chấp hành quy định pháp luật về thanh tra chưa nghiêm, nhất là thời hạn công bố kết luận thanh tra vi phạm nhiều, có cuộc vi phạm từ 6 tháng đến 24 tháng.

“Điều đó dẫn đến dư luận bức xúc vì thanh tra rồi thì phải có kết luận, quan điểm thế nào. Kéo dài thì doanh nghiệp không làm ăn được, cá nhân mất uy tín, nghi ngờ lẫn nhau. Chính phủ cần chỉ đạo rà soát việc chấp hành thời hạn công kết luận thanh tra. Bộ nào chưa thì làm rõ để công bố cho dư luận rõ” – Chủ nhiệm Uỷ ban Tư pháp nêu ý kiến.

Phó Chủ tịch Quốc hội Đỗ Bá Tỵ thì lưu ý về tình hình an ninh, trật tự và đề nghị cần đánh giá rõ hơn, nhất là các loại tội phạm, tham nhũng, tình trạng chống người thi hành công vụ.


Hai Mùa Xuân

Đầu năm 1967

Chỉ c̣n một tuần lễ nữa là Tết Đinh Mùi. Hà-nội năm đó lạnh lắm. Bến Phà-đen lại càng lạnh v́ gió từ mặt sông Hồng đưa lên. Trong mặc áo bông trấn thủ, ngoài mặc áo bông xanh cổ lông mà tôi vẫn thấy người run bần bật. Bến tàu thủy đi Thái B́nh đây rồi, nhưng sao tối thui và im lặng thế. Đường lầy lội, tôi vừa dựng xe đạp th́ có bóng đèn pin loáng trên mặt tôi và tiếng cười vui của giám đốc công ty vận tải đường sông Hà-nội:

– Chào anh Trọng Kính*. Anh ra sớm thế. Nửa tiếng nữa mới nhổ neo.

Tôi chào lại và nh́n xuống bến, Chiếc tàu Giải Phóng nằm im ĺm. Một thuyền viên nhắc giùm tôi xe đạp lên boong tàu. Thấy tôi chẳng nói ǵ, ông giám đốc gặng hỏi:

– Anh có nhận xét ǵ không?

 – Được lắm. Ngoại trừ một ánh đèn pin vừa xong của anh c̣n th́ tối đen như mực.

Giám đốc cười hỉ hả:


– Này, xin báo cáo với anh là hành khách đă xuống hết rồi đấy, thế mà không một ánh lửa, không một tiếng ho. Chúng tôi đă chấp hành triệt để lệnh trên về pḥng không nhân dân. Máy bay Mỹ có đến lúc này th́ cũng mù tịt chẳng thấy ǵ hết. Anh nhớ nhấn mạnh điểm này trong bài viết của anh nhé.

Tôi ph́ cười:

– Các anh yên tâm. Chúng tôi có nhiệm vụ viết để động viên chứ có bao giờ phê b́nh đâu. Lănh đạo bộ giao thông, lănh đạo sở giao thông thành phố và cả bộ biên tập báo bên tôi cũng đă căn dặn rồi. Khác tư chút là khỏi in, anh đừng lo.

ùm… ùm

C̣i tàu thủy vang lên trên mặt sông, trầm trầm, loăng dần vào sương mù. Thuyền trưởng Bách từ dưới bến đi lên chào tôi:

– Báo cáo anh, được sự chỉ đạo của đảng ủy và ban giám đốc công ty, được học tập về điều lệnh pḥng không nhân dân, tàu Giải Phóng II chúng tôi đă có quyết tâm thư gửi lên Hồ chủ tịch, lên trung ương đảng, lên chính phủ, lên quốc hội, lên đảng đoàn và đồng chí bộ trưởng giao thông vận tải, lên tổng công đoàn, lên đoàn thanh niên lao động, lên thành ủy và ủy ban thành phố, lên đảng ủy và ban giám đốc sở giao thông vận tải thành phố, lên hội đồng pḥng không thành phố, lên liên hiệp công đoàn Hà-nội… kiên quyết không để xảy ra thiệt hại về tài sản và… và… về người nếu giặc Mỹ dám đánh vào bầu trời Hà-nội. Tất cả thuyền viên đều có quyết tâm thư hy sinh thân ḿnh cứu tàu, cứu máy nếu t́nh huống xấu nhất xảy ra.

Tôi không dám cười v́ lời chào tràng giang đại hải thế. Đă quen với lối ăn nói “mới” từ sau 1954 đến nay, dù là ở cấp bộ hay cấp tổ; dù là ở cơ quan văn hóa hay đội vệ sinh, th́ đều nói, nghĩ và viết theo cái mẫu có sẵn như vậy. Tôi cũng chẳng giận v́ cứ phải rét muốn chết mà cũng chưa được xuống tàu tránh gió, tránh lạnh. Cũng như bạn đọc báo, họ cũng phải đọc cái lối viết theo mẫu của chúng tôi, y như ta điền mẫu đơn vậy. Những chỗ chấm chấm th́ điền tên người, ngày, tháng, năm sinh; tên cha, tên mẹ và v.v…, chỉ khác nhau ở chỗ đó. Nếu tiêu đề các đơn từ có phần mở đầu là “Việt Nam dân chủ cộng ḥa, độc lập, tự do, hạnh phúc”; th́ mở đầu bài báo cũng có cái khuôn chung như vậy: “dưới sự lănh đạo sáng suốt của đảng và Hồ chủ tịch”.

Thuyền trưởng Bách bố trí cho giám đốc công ty vận tải đường sông Hà-nội – thủ trưởng của anh ta – và tôi ở pḥng của thuyên trưởng. Vừa lên boong tàu chưa được vài phút th́ tàu rời bến sau một hồi ùm… ùm… ùm. Tiếng c̣i tàu thủy nghe lúc nào cũng có cái vẻ chia ly, buồn bă. Tôi vào pḥng lái xem thuyền trưởng Bách lái tàu đi trong sương mù.Sương bao bọc làm cho sông chẳng có bến, có bờ, có đầu, có cuối. Mùa này nước sông cạn. Tàu chạy chầm chậm, tiếng máy run nhè nhẹ. Tôi nh́n trong đêm cái dáng cao lớn của thuyền trưởng và tưởng như con sông in trong đầu anh. Chợt có tiếng gơ vào kính, ông giám đốc làm hiệu gọi tôi ra. Chẳng cần nghe ông ta nói, tôi cũng hiểu đây là cái khoản “ấm bụng”, nghĩa là tư rượu “quốc lủi” bên Từ-sơn và… món nhậu th́ thật là tươm tất, phong phú.

Ca-bin thuyền trưởng rộng hơn chiếc giường cá nhân tư chút, mấy ô kính có rèm vải che kín. Khi cửa mở, ánh đèn vàng yếu ớt hắt ra. Mâm rượu đầy ắp, nào thịt chó luộc, dồi chó, cả một con ngỗng quay đă chặt, xếp đến tận miệng chiếc nồi nhôm, rồi lạc rang và các thứ rau với bánh đa nướng.

Ông giám đốc xoa tay cười khô khan (chắc là nước miếng đang tứa ra):


– Ta chiến đấu đi anh. Thằng Bách c̣n phải lái tàu.


– Lính vận tải của các anh, cả bộ cả thủy, đều hào phóng thật.

Ông ta ừ à, c̣n măi vắt chanh vào chén mắm tôm, rồi chế thêm một th́a rượu. Cái món nước chấm này bốc lên ngan ngát làm dạ dày cồn cào. Rượu uống bằng chén ăn cơm. Nó tê tê, êm êm, nóng ran trong miệng, ấm áp lan xuống họng, xuống bụng; mùa đông đang bị đẩy ra:

Tôi cắn một miếng giềng, cay cay đầu lưỡi. Cắn thêm một miếng ớt, cả miệng nóng lên. Miếng thịt chó luộc, phần má của con chó, ṛn mà không quá mỡ; vài cánh rau húng, vài hạt lạc và mẫu bánh đa lớp rớp trong miệng… làm thần kinh lưỡi đê mê, làm đầu dịu lại. Chợt ngửng mặt lên, phía đầu giường của thuyền trưởng, ngay sát trên đầu ông giám đốc ảnh của ông Hồ chí Minh lồng khung kính đặt trên bàn thờ tổ quốc, mặt đỏ au, gần bằng màu cánh hoa hồng cắm trong lọ cạnh đấy. Chỗ nào ông ấy cũng trườn mặt ra, tài thật! Tôi e hèm:

– Này ông giám đốc, ai ở sau lưng anh ḱa?


– “Cụ” chứ ai. “Cụ” cũng cảm thông cho lính tráng gian khổ quá nhiều phải “cải thiện” mới có sức phục vụ “Cụ” và cách mạng chứ.

Tôi vờ làm giọng nghiêm:

– Các anh mua rượu ở đâu? Tiền đâu mà các anh ăn tiêu như thế này?

Vẫn cái giọng lúng búng mồm đầy thịt:

– Tất cả đều là “lộc” của “Cụ” cả. Ai bảo “Cụ” cho phép mấy thằng tỉnh ủy Hà-bắc được nấu rượu lậu để nộp cho Ban bảo vệ sức khỏe của trung ương làm rượu thuốc. Ai bảo ban chủ nhiệm các hợp tác xă cho vợ con và tay chân đi buôn chuyến. Và… và… “Cụ” lại cho con quản lư đội tàu này…

Ông ta cười ha hả, hẳn lư thú v́ câu nói có duyên của ḿnh, bắn cả thức ăn trong miệng ra. Một mẩu thịt dính vào mặt tôi. Thế là cái hứng “nhậu” của tôi lắng xuống. Hết cơn cười, ông ta lại nói:

 – Cánh nhà báo các anh lạ tỏng ǵ nữa mà giả vờ. Lương thằng Bách mà có bảy chục một tháng th́ ăn ǵ, chưa nói đến thuyền viên, làm sao mà thi đua cho nổi, làm sao động viên chúng nó được. Cho nên tôi lờ đi, một thứ giao kèo ngầm mà, cho chúng nó chở ít hàng lậu, khách lậu, bán trộm ít dầu, nhớt để cải thiện. Miễn là chúng nó phải hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch là được. Anh xem, từ ngày tôi về làm giám đốc ở đây, ba năm liền là đơn vị “lao động xă hội chủ nghĩa” rồi đấy, năm rồi được nhận lẳng hoa của Hồ chủ tịch.

Đúng là tôi biết, c̣n nhiều hơn nữa, cả cái khoản tàu, các xà-lan tự hành phải “nộp cống” cho ông; rồi ông lại “nộp cống” lên ban giám đốc và đảng ủy của sở và sở lại “nộp cống” lên thành và bộ. Chỗ nào cũng thế cả. Có khác là từ tháng 8-1965, Mỹ ném bom ra miền Bắc, th́ cánh vận tải cả ô-tô, tàu thủy, xà-lan và tàu hỏa – là vớ bẫm nhất. Bọn họ giàu nhanh như thổi và dễ… lấy vợ. Giáo sư, bác sỹ và… nhà báo th́ vẫn cứ nghèo mạt rệp.

Tôi tụt khỏi giường, quờ chân t́m đôi dép lốp. Ông giám đốc hỏi:

– Đi đái hả? Lạnh lắm, hé cửa, ghếch ṇng súng đái mẹ nó ra ngoài boong ấy. Tôi vẫn làm thế đấy, không th́ cụt hứng v́ đi với lại.


– Anh ngồi lai rai đi, tôi tạt xuống xem hành khách sinh hoạt ra sao mới biết đường mà viết chứ.

Cánh cửa ca-bin khép lại mà tôi c̣n nghe tiếng cười “nịnh” của ông giám đốc đuổi theo. Báo chí tuy nghèo nhưng lúc này lại có sức mạnh, nhất là từ khi ông Hồ chí Minh đề ra việc biểu dương “người tốt việc tốt”, “người thật việc thật”, coi đây là một trong các biện pháp xây dựng “con người mới xă hội chủ nghĩa”. Những người được báo chí biểu dương dễ được nhận huy hiệu của “Hồ chú tịch”, đấy là sự thoát ra ẩn số khỏi cái đám quần chúng, để đứng ở ngơ vào “đại lộ quan lại”. Những đơn vị được biểu dương sẽ đạt thành tích thi đua, toàn đơn vị được nâng quỹ tiền khen thưởng, nâng quỹ phúc lợi và bộ tứ lănh đạo – đảng, chuyên môn, công đoàn, thanh niên – sẽ được nâng lương, đề bạt ở chức cao hơn hoặc cho phép đơn vị ph́nh to ra. Cho nên các tỉnh, các ngành đua nhau họp báo, chiều chuộng cánh báo chí. Họ tưởng mấy thằng cha viết báo quyền hành lắm đấy.Sự thật th́ họ có tiếp đăi nồng hậu hay không cũng chẳng sao… C̣n nhà báo chỉ ngồi nhà cũng viết được. V́ tất cả là dựa vào các loại báo cáo của các ngành – do tuyên huấn đảng ủy cơ sở soạn thảo – đă được đảng ủy các cấp thông qua, từ số liệu mọi loại chỉ tiêu, từ các cá nhân tích cực với bản tự khai và sơ yếu lư lịch, hàng chục con dấu đỏ ḷe loẹt. “Thực tế” đấy, cứ dựa vào đó mà viết. Đại loại là lúc đầu có khó khăn – hậu quả của xă hội cũ – nhưng rồi có sự lănh đạo của đảng ủy, mọi người nhớ đến “bác”, không muốn cho “bác” buồn, thế là dựa vào các nghị quyết của trung ương, các văn kiện đại hội đảng, ḷng căm thù “Mỹ-Ngụy” mà vươn lên. Kể cả khi viết về các ca mổ gan khô của bác sỹ Ty, đỡ những ca đẻ khó của bác sỹ Th́n ở bệnh viện C, cũng vẫn theo cái công thức chung như thế. Cho nên việc nhà báo đi cơ sở cũng giống như mấy diễn viên hôn gió khán giả, chỉ là tăng thêm phần thân mật mà thôi.

Tổ trưởng thuyền viên Tâm, có biệt danh Châu Xương v́ có hàm râu quai nón loại chổi xể, từ hầm hành khách bấm đèn pin cho tôi xuống thang. Đứng sát Tâm, tôi bảo anh cứ để tôi tự nhiên như một khách đi tàu.

Tối quá. Lối đi toàn chân người ch́a ra. Tôi đi về mạn đuôi, xin lỗi được t́m một chỗ ngồi. Giọng một bà cụ:

– Chú ngồi đây. C̣n rộng chán. Càng đông càng ấm chứ sao.

Tôi ngồi xuống cạnh bà cụ. Bàn tay bà cụ nắm vào tay tôi, lạnh, xương xẩu, sần sùi, hơi run run. Tôi khẽ hỏi cho có lệ:


– Mẹ đi đâu đấy?


– Tôi đi gần đây thôi – Hưng-yên ấy mà. Thế chú đi đâu?


– Con đi Thái-b́nh

Bà cụ thở dài:


– Nghe nói bên đó mất mùa. Lại đói nữa thôi. Chẳng biết đến bao giờ mới được bữa ăn no. Cũng tại thằng Mỹ cả thôi. Đến cụ Hồ mà cũng bữa cơm chỉ có vài quả cà xứ Nghệ. Thật, nghĩ đến cụ mà chỉ muốn khóc.

Tôi miễn cưỡng “vâng” mà ḷng ngao ngán tự hỏi: “ăn cơm với vài quả cà mà ngày càng béo múp đầu múp đuôi. Sao dân chúng c̣n khờ quá vậy”. Chợt nghĩ ḿnh cũng đang trong bộ máy tuyên truyền xuyên tạc của ông ta, tôi thấy ḿnh quả có tội với những người dân chân thật này. Rồi trong tôi lại nổi lên “thằng bào chữa cá nhân” rằng ḿnh đi nhiều nhưng chỉ viết những thứ vô thưởng vô phạt. Cho dù vậy, tôi vẫn tự véo đùi ḿnh để tự trừng phạt. Bỗng tay tôi chạm phải một cái đùi nóng hôi hổi qua lớp vải mỏng. Chẳng cần quay lại nh́n người ngồi bên, tôi cũng biết đây là một cô gái. Tôi vội rụt tay lại. Và, lúc này thoang thoảng qua mũi tôi một mùi là bưởi, bồ kếp có chút mùi lá sả. Tôi cúi xuống ngửi áo của ḿnh. Mùi nước đái con nít nhưng vẫn khai. Vợ chồng tôi vẫn phải lấy chiếc áo bông này đắp cho đứa nhỏ, mà con bé hay đái dầm quá thế mà áo th́ cứ để qua mùa đông mới giặt được. Nhà có mỗi cái chăn bông đắp hai vợ chồng và đứa con lớn. Tôi đi vắng th́ ba mẹ con được nằm chung. Nghĩ đến ḿnh hôi hám, tự nhiên ngượng với con người sạch sẽ ngồi bên.

Có tiếng chuông lanh canh, tàu như dừng lại. Hành khách lao xao đứng lên gọi nhau ư ới. Cửa bên hông tàu mở ra, gió lạnh thổi vào cùng với tiếng mời mua quà bánh. Đây là băi Tự-nhiên (thuộc Hưng-yên), tàu không vào bến trong mùa nước xuống nên khách phải đi đ̣ ra và vào bến. Các thuyền con của nhà hàng vây quanh tàu như một cuộc họp chợ. Tất cả đều làm ăn, trả tiền, th́ thào trong bóng tối, không một ánh đèn hay lửa.

Bà cụ ngồi bên tôi lên bến này. Tôi d́u bà cụ dậy, nắm chặt tay bà cụ trong tay, tôi cảm thấy một nỗi tê tái dâng lên. Bàn tay mẹ tôi bây giờ cũng gầy, xương xẩu và sần sùi như vậy, ấy thế mà có thời là hoa khôi kia đấy. Sự khốn cùng và thời gian đă tàn phá hết cả.

Cuộc mua bán, ăn uống, đưa hàng lên tàu, chuyển hàng xuống thuyền, những câu th́ thầm, những cái đập tay và tiếng cười cầu tài… phải gần nửa tiếng đồng hồ sau mới xong. Con tàu lại rồ mát nhè nhẹ. Chỗ bà cụ lên bến ngồi có hai thanh niên nồng nặc mùi rượu. Một anh chàng hơi thở như mùi lạc thối phả ngang mũi tôi.

– Bác ngồi xích vào chút nữa đi.

Tôi chưa kịp xích th́ anh thanh niên thứ hai đă nói:


– “Tàu là nhà, hành khách là chủ”, khẩu hiệu này dán từ ở pḥng bán vé cho xuống đến tàu, anh không thuộc hay sao mà cứ đ̣i ngồi thoải mái!!!

Cô gái cạnh tôi dịch một chút và khe khẽ với tôi:


– Anh dịch vào đây cho các anh ấy ngồi. Mỗi người chịu đựng một chút vậy.


 Tiếng nói này đúng là “dân Hà-nội” chính gốc. Nhẹ nhàng như tiếng gió, trong như tiếng hạc. Giọng cô ta nghe sao sang trọng và dơng dạc lạ thường.

Anh chàng ngồi cách tôi một người lè nhè giọng rượu:

– Chà, chà, có “phún” (tiếng lóng là phụ nữ) là vui rồi. Cô em giọng ngọt ngào như thế chắc là hát hay lắm. Đề nghị phục vụ bà con một bài đi.

Cô gái ngồi im, chợt cái đùi hơi cựa cậy. Tôi cảm thấy sức nóng từ đùi con gái trinh nguyên truyền qua tôi, tuy đă hai lần quần vải gai. Tiếng anh chàng hôi mùi lạc thối ồm ồm:

– Hát đi cô em. Thanh niên “ba sẵn sàng”, phụ nữ “ba đảm đang” mà nhát bỏ mẹ! Thế th́ đánh Mỹ sao nổi?

Tay bạn hùa theo:

– Các anh là giặc lái đây (tức lái xe ô-tô). Mới từ khu bốn lửa đạn về thăm gia đ́nh. Hát đi rồi về quê anh chơi, anh chi hết tiền tàu xe đi xe về lại c̣n quà cáp nữa, ừ đi!

Cả tàu im lặng, chỉ có tiếng máy rù rù và sóng nước ́ oạp đánh vào mạn tàu. Anh chàng hôi mùi lạc thối đập tay vào đùi tôi:

– Ông anh làm ơn đổi chỗ cho đàn em đi. Xin “các” ông anh hai gói Điện-biên giấy bạc hút cho vui. Được không?

Cầm tay anh ta, tôi đặt về đùi anh ta, nhưng cố t́nh bóp tay anh ta thật mạnh – thị uy sức mạnh mà – :

– Tôi cũng sắp tới bến rồi. Hai anh hát trước đi.

Hẳn là hiểu sự cảnh cáo “ḥa b́nh” của tôi, anh ta cười cười:

– Ông anh “tập tạ” hay sao mà khỏe thế. Bóp gẫy mẹ nó bàn tay câu cơm của đàn em rồi. Ừ, hát th́ hát.

Rồi quay sang bạn:

– Này Thọ sùi, tao với mày đồng ca bài “Mười yêu” đi.

Và, hai thanh niên mới – sản phẩm của ông Hồ chí Minh – cùng hát, đúng ra là gào lên:

“Một yêu anh có peugeot (1)


Hai yêu anh có Seiko (2) đàng hoàng


Ba yêu anh có bộ đồ sang


Bốn yêu hộ khẩu rơ ràng thủ đô


Năm yêu không có bà bô (3)


Sáu yêu Văn-điển ông bô sắp về (4)


Bảy yêu lái xe là nghề


Tám yêu phe phẩy, lè phè, nhởn nhơ


Chín yêu bạc lắm, tiền dư


Mười yêu dù lớn, dù vừa che thân (5)


Với em, tiêu chuẩn phu quân


Rơ ràng cho xứng mười phân vẹn mười


Bà con ơi, xin chớ có cười!”

Tiếng hát vừa dứt, hai anh chàng tự vỗ tay tán thưởng trước. Một số khách đi tàu cũng

vỗ tay theo. Anh chàng “lạc thối” lớn tiếng:

– Ngồi đây mới biết là c̣n sống về lễ ông bà, ông vải ngày Tết bà con ạ. Thuốc lá Điện-biên bao bạc đây, xin mời bà con hút một điếu đoàn kết cho vui.

Cả tàu bỗng nhao lên gọi phần thuốc được mời. Anh chàng lễ phép mời tôi và cô gái bên cạnh. Có tiếng Tâm “Châu Xương” sang sảng:

– Lệnh pḥng không, cấm lửa bà con ơi. Đề nghị triệt để chấp hành điều lệnh pḥng không nhân dân khi đi tàu.

Bạn anh “lạc thối”, có tên Thọ sùi, nổi giận:


– Đéo cho hút th́ thôi, bà con giữ làm kỷ niệm năm hết Tết đến vậy.

Tiếng Tâm nạt lại:

– Đề nghị đồng chí ăn nói đàng hoàng, đừng văng tiếng Đức như thế.


– Nói tiếng Cu-ba, Cu-mẹ được không?

Mấy người già giàn ḥa. Tâm bỏ đi, c̣n hai anh chàng “giặc lái” vẫn ấm ức văng tục một lúc nữa.

Tôi chợt nhớ đến tiếng “đồng chí”, giờ đây nó được dùng vào lúc người ta định đối phó với nhau, định chụp cho nhau các kiểu mũ. Lại cũng một sản phẩm ngôn từ nhăn hiệu Hồ chí Minh.

Cô gái khẽ nói với tôi:

– Anh làm ơn cho em lách ra, sắp tới bến em phải lên rồi.

Tôi như hụt hẫng:


– Vậy hả… chúc cô năm mới mọi điều may mắn tốt lành nhất.


– Em cám ơn anh. Xin được kính chúc anh và gia đ́nh sức khỏe, công tác tốt.

Cô gái cúi người nhặt chiếc túi xách dưới gầm ghế, mớ tóc lao xao và hương lá bưởi, bồ kếp lại bay lên. Tôi khẽ hít đầy lồng ngực.

Tôi lên boong tàu. Nghe tiếng chèo thuyền lơm bơm mà chẳng thấy thuyền. Cái lạnh ngấm nghía. Cái lạnh tái tê. Khi tàu chuyển động, tôi đi về pḥng thuyền trưởng. Mâm nhậu chỉ có ḿnh ông giám đốc, tay c̣n cầm cái chân chó, bát nước sáo trong mâm, ghếch đầu dưới bàn thờ ông Hồ chí Minh, đang ngáy như Trương Phi.

Vừa kịp ngồi lên giường th́ một thuyền viên mở cửa bê cho tôi tô sáo chó nóng hôi hổi. Tôi húp một miếng mà chẳng cảm thấy mùi vị ǵ. Thoang thoảng bên mũi tôi như vẫn c̣n mùi lá bưởi, mùi bồ kếp và lá sả. Tôi đưa điếu thuốc lá cho anh thuyền viên. Anh ta đưa lên mũi hít hít và cười thú vị:


– Điện biên giấy bạc đây. Tiêu chuẩn Vân-hồ (6) đấy. Em xin anh.

Tôi thấy ḿnh như đang đi trong sương mù, không đầu, không đuôi, không bến, không bờ: người đầy tớ vĩ đại nhất của nhân dân đang trên bàn thờ “Tổ quốc”; người đầy tớ trung thành của nhân dân đang nằm ngáy o o, tay c̣n cầm chiếc chân chó nấu sáo. Những người chủ của đất nước đang chen nhau dưới hầm tàu hôi hám. Và tôi, người có lư lịch là thành phần “bóc lột” đang được giai cấp công nhân phục dịch, vâng dạ.


Ghi nhớ về lễ noel hà-nội

 

ĐOÀN TỤ… 

 NĂM 1954.

Hà-nội vẫn có cái lạnh thật dễ thương của tháng cuối trong năm, không hề có chút ǵ giống nỗi cô đơn của Déméthée v́ phải xa cô con Proserpine đă bị thần Pluton nứt mặt đất bắt xuống âm ty làm vợ. Nhà nhà đều chuẩn bị đón mừng lễ Giáng-sinh, kể cả những gia đ́nh không phải công giáo. Mặc dù dân Hà-nội tránh nạn cộng sản di cư vào Nam như thác, nhưng bù lại, binh lính, cán bộ, công an và dân các tỉnh ùn ùn kéo về lấp chỗ trống nhanh như cỏ dại mọc đầu mùa xuân. C̣n hơn thế, Hà-nội như có vẻ sầm uất hơn. Hàng tồn kho của Hà-nội vẫn c̣n nhiều, lại càng nhiều hơn gấp bội v́ số người di cư vào Nam mang bán tống bán tháo tất cả những ǵ có thể bán được. Và thế là “Chợ Trời” của Hà-nội là toàn bộ “36 phố phường”. Các phố xưa kia cổng kín tường cao, trưa trưa chỉ có tiếng rao của người bán dạo đồ thêu, đồ làm vệ sinh trong nhà, củi tạ, nước mắm Phú-quốc v.v… vang lên như tiếng chim gơ kiến trong cánh rừng già, th́ nay cũng thành chợ: đồ gỗ ở phố Phan Chu Trinh; máy ở Hàm Long; sách cũ ở đầu Bà Triệu; xe đạp ở Quang Trung và Nguyễn Du; quần áo ở Tô Hiến Thành… rồi tới Hàng Bài, Lư Thường Kiệt, Hai Bà Trưng. Ồn ào nhất là khu ga, lan ra cả Sinh Từ, Nguyễn Thái Học, Cửa Nam, Kỳ Đồng, Cấm Chỉ, Phùng Hưng, cho đến tận cả Cột Cờ. Tuy mùa hoa phượng vĩ đă tàn nhưng Hà-nội đỏ ối hơn bao giờ hết. Các công sở cho đến đầu đường, xó chợ, cổng đền, chùa và nhà thờ, chỗ nào cũng cờ đỏ sao vàng, nhiều chỗ c̣n cả cờ Nga và cờ Trung cộng. Lính Tây rút hết, nhưng lại có lính của ủy ban quốc tế: Ca-na-đa, Ba-lan, Ấn-độ. Ảnh của lănh tụ vô sản trong nước và ngoài nước được treo khắp hang cùng. ngơ hẻm và bày bán ngay ngoài đường ở các phố Tràng Tiền, Cửa Nam, Hàng Buồm, Hàng Giấy, Bờ Hồ… đủ mọi mẫu: rậm râu sâu mắt cũng có; hói đầu trán dô cũng có; mập ú cũng có; mặt như mâm bánh đúc cũng có v.v… Nếu không có chú thích chức vụ dưới ảnh th́ cứ tưởng đây là các loại diễn viên của đoàn tạp kỹ nào vậy.

Cuối phố Ḷ Đúc, gần ngay nhà thương chó – nay là cơ quan của bộ Lâm nghiệp – ai ai cũng mừng cho cụ phán Thành, chủ căn nhà lầu mới nhất, khỏi phải sống lẻ loi v́ đă có con trai là cán bộ cùng vợ con mới từ Việt Bắc về đoàn tụ. Cho nên Nô-en 1954 của nhà cụ phán Thành được chuẩn bị khang trang hơn mọi năm. Cây Nô-en của nhà cụ to đẹp nhất khu vực đó. Gần chín năm trời, cụ phán Thành đă dành nhiều th́ giờ ngắm các tượng Thánh cũng như cầu xin Đức Mẹ cho ngày đoàn tụ này. Con trai một của cụ là cán bộ hàm vụ trưởng, công tác ở văn pḥng phủ thủ tướng; con dâu của cụ, xuất thân là rễ cốt cán trong cải cách ruộng đất thí điểm ở Thái Nguyên, nay là cán bộ tổ chức của Tổng công đoàn và đứa cháu nội của cụ vừa tṛn sáu tháng. Con, dâu và cháu của cụ về Hà-nội đă vài tháng nay, nhưng vẫn ở tại cơ quan. Chỉ có con trai cụ về nhà hai lần thăm cụ, uống vội một chén trà chứ không chịu ăn uống ǵ và hấp ta hấp tấp bỏ đi cứ như là nhà có ma. Mâm cơm được dọn ra, anh ta liếc nh́n đĩa thịt gà, cái yết hầu động đậy, nét mặt căng thẳng nhưng vẫn không đủ can đảm ngồi lại ăn với bố bữa cơm sau chín năm xa cách! Rồi, một buổi tối, anh ta về nhà, cũng vội vă uống chén trà để báo cho cụ phán Thành biết vài ngày nữa anh ta sẽ đem vợ con về ở ngôi nhà này v́ đă được phép của “đảng ủy” cơ quan. Xa nhau chín năm, người con trai cụ phán Thành thay đổi quá nhiều, cả từ vẻ mặt, ánh mắt, người ngợm cho đến ngôn ngữ ăn nói. Hai cha con ngồi chỉ cách nhau một cái bàn mà sao c̣n thấy xa hơn Hà-Nội lên Việt-Bắc!


Nguyên tắc cơ bản của bầu cử khóa 9

Với tư cách một thiết chế bảo đảm dân chủ, bầu cử có những nguyên tắc chung nhất, mà bất cứ hoạt động bầu cử ở đâu cũng đều phải tuân theo. Ở nước ta, bầu cử là một định chế quan trọng của dân chủ, nền tảng hợp pháp để hình thành các chức danh, cơ quan lãnh đạo của các tổ chức thành viên hệ thống chính trị.

bầu cử

Bầu cử là một quá trình đưa ra quyết định của công dân hoặc của thành viên một tổ chức để chọn ra các cá nhân nắm giữ các chức vụ thuộc chính quyền, thuộc ban lãnh đạo của một tổ chức, cơ quan, đơn vị nào đó. Đây là cơ chế phổ biến được các nền dân chủ hiện áp dụng để phân bổ chức vụ trong bộ máy lập pháp, đôi khi cả ở bộ máy hành pháp, tư pháp và ở chính quyền địa phương. Bầu cử là cơ sở pháp lý cho việc hình thành ra các cơ quan đại diện cho quyền lực của Nhà nước.

SƠ ĐỒ HÓA TIẾN TRÌNH CỦA MỘT CUỘC BẦU CỬ.
Quá trình 3: Đơn vị bầu cử và khu vực bỏ phiếu
Quá trình 4: Tổ chức phụ trách bầu cử
Quá trình 5: Thành lập danh sách cử tri:
– Cử tri:
+ Người có quyền bầu cử là công dân Việt Nam đang cư trú trên lãnh thổ Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên.
+ Trường hợp cử tri là người đang bị tạm giam, tạm giữ, người đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cở sở cai nghiện bắt buộc được ghi tên vào danh sách cử tri tại nơi đó.


Cuộc cách mạng triệt để nhất trong lịch sử

Trong lịch sử nước nhà đã diễn ra nhiều cuộc cách mạng, nhưng cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là cuộc cách mạng vĩ đại nhất, đã làm thay đổi toàn diện và triệt để cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng và an ninh của đất nước.

Không giống như nhiều cuộc cách mạng trước đây, cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức – những người tiên phong trong giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Nhiệm vụ cách mạng của Đảng là trục xuất đế chế xâm lược, lật đổ chế độ phong kiến, giành lại hòa bình, độc lập và tự do cho dân tộc. xây dựng nhà nước của nhân dân, mang lại một cuộc sống ấm áp và hạnh phúc cho toàn dân.

Nhiệm vụ cách mạng của Đảng là phù hợp với nguyện vọng và khát vọng của nhân dân, vì vậy Đảng được tuyên truyền rộng rãi khắp mọi miền của đất nước với sự hỗ trợ, ủng hộ và niềm tin đầy đủ.

Đảng đã thực hiện thành công cuộc nổi dậy chung của nhân dân ở mọi nơi trên đất nước với tinh thần, quyết tâm của quân đội và nhân dân trong cả nước để “giải phóng chúng tôi”, “Ngay cả khi chúng ta phải đốt cháy Trường Sơn Núi, chúng ta phải được xác định là độc lập. ”

Khởi động thành công, Đảng thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, tổ chức hệ thống chính quyền nhân dân.

Tuyên bố của Chính phủ, được Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại Quảng trường Ba Đình ngày 2-9-1945, tuyên bố trước mặt nhân dân cả nước, cũng như các quốc gia và dân tộc trên thế giới, khẳng định hòa bình, độc lập dân tộc, quốc gia chủ quyền, quyền bình đẳng, tự do, thịnh vượng và hạnh phúc phải được tôn trọng.

Nhà nước thuộc địa, sự thống trị, sự áp bức và bóc lột của thực dân, phát xít và các tay sai phong kiến ​​hoàn toàn bị bãi bỏ. Nhà nước của nhân dân được hình thành, tất cả lợi ích của đất nước là của nhân dân. Đây là quốc gia dân chủ đầu tiên ở Đông Nam Á.

Cùng với tổ chức hệ thống Nhà nước, ta còn tiến hành bầu cử Quốc hội, ban hành Hiến pháp trong đó xác định rõ: Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo.

Đất nước là một khối thống nhất, không thể phân chia. Mọi công dân phải có nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc, tôn trọng Hiến pháp, tuân theo và bình đẳng trước pháp luật.

Mọi người được tự do ngôn luận, hội họp, xuất bản, tín ngưỡng, cư trú và đi lại… Xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân, gắn chặt lợi ích đất nước với quyền lợi và nghĩa vụ công dân, tạo nguồn lực để Đảng ta phát huy sức mạnh toàn dân khôi phục và xây dựng kinh tế


Bùi tín – Câu chuyện hòa hợp, hòa giải

Một cuộc chiến kết thúc 40 năm, nỗi đau không khốc liệt nhưng tê liệt, dai dẳng. Mặt khác có một gia đình không bị mất một cốc, loại này hay loại khác? Bên nào không có di chứng của chiến tranh kéo dài không chỉ một hoặc hai thế hệ?

Khi nào tháng 4 sẽ là Ngày Hòa bình và Hòa giải người Việt Nam?

“Không có gì, không ai bị lãng quên.” Lịch sử cũng giống với ý thức của con người. Nhưng vấn đề là làm thế nào để nhớ? Đã bốn mươi năm trôi qua, một nửa thời Pháp thuộc, gấp hai lần chiến tranh 1954-1975, và gấp đôi mức bình thường của Hoa Kỳ và Việt Nam trong giai đoạn 1995 đến 2015. Nhưng hòa giải vẫn là một vấn đề nóng bỏng đối với người Việt Nam, đặc biệt là trong tháng Tư.

Là một thế hệ sinh ra từ chiến tranh và thời bình, “chiến tranh biên giới” của chiến tranh và hậu chiến, và làm việc trong nền văn hoá lịch sử, tôi luôn tự hỏi: Quá trình hòa giải giữa người Việt Nam rất khó khăn để có thể khiến mọi người tuyệt vọng suy nghĩ về tương lai của đất nước bắt nguồn từ những vụ ly hôn dai dẳng. Các lập luận mà nhiều (nhiều) ngày nay đưa ra cho rằng không thể, thậm chí không thể hòa giải được … có thể cho thấy nguyên nhân không chỉ là một sự kiện thua cuộc, mà có lẽ nó bắt nguồn sâu xa hơn trong lịch sử và văn hoá.

Nếu bạn không thể có được câu trả lời từ thời kỳ hậu chiến tranh trong 40 năm qua, hãy thử “khai quật” từ lịch sử – văn hoá sang may, tìm câu trả lời hoặc tia hy vọng cho tiến trình hòa bình. công đức trong tương lai gần.

Nếu luôn chỉ nhìn thấy một phía của quá khứ thì đâu còn đủ bình tĩnh để nhìn thấy hiện tại và tương lai chung của đất nước này. Tất nhiên, “khép lại quá khứ”nhưng lịch sử thì cần minh bạch, khoa học. Dù muốn hay không thì thắng/thua cũng là kết cục của hầu hết những cuộc chiến. Xem xét toàn diện xã hội hai bên (không chỉ về quân sự, chính trị) sẽ nhìn nhận được nhiều kinh nghiệm và bài học hữu ích cho xã hội hiện nay.


Đấu tranh bất bạo động là gì

Đấu tranh bất bạo động là một hình thức đấu tranh không dùng vũ khí nhưng dùng số đông quần chúng và chính nghĩa của họ làm sức mạnh để áp lực và hóa giải một thế lực mạnh hơn gấp nhiều lần là một hình thức đấu tranh không dùng vũ khí nhưng dùng số đông quần chúng và chính nghĩa của họ làm sức mạnh để áp lực và hóa giải một thế lực mạnh hơn gấp nhiều lần

Đấu tranh bất bạo động có thể và đã được dùng để:

  1. Để cải thiện một khiếm khuyết trong xã hội hay bày tỏ một quan điểm của mình về một vấn đề nào đó
  2. Để lật đổ một nhà độc tài, một thể chế chính trị không được đa số người dân ủng hộ: có phạm vi rộng lớn, với sự tham gia của nhiều thành phần quần chúng

Những phương cách hành động

Thực hiện phương pháp đấu tranh bất bạo động có ba phương pháp chính là:

  • Lên tiếng và thuyết phục: Tức là một nhóm người nhằm thể hiện sự ủng hộ hay phản đối một điều gì đó nhằm thay đổi nhận thức của cộng đồng tới một vấn đề nào đó. Mục đích chính của hành động này là gửi thông điệp tới đối phương hoặc những người có khả năng thực hiện những thay đổi cần thiết trong xã hội. Hoạt động này diễn ra ôn hòa, không sử dụng hung khí và vũ lực để gây mất trật tự xã hội.
  • Bất hợp tác: Tức là từ chối thực hiện hoặc gây trở ngại cho các hoạt động đang gây phương hại cho xã hội hoặc trái với lợi ích, nguyện vọng chung của xã hội. Tuy nhiên, hoạt động này vẫn phải tuân thủ luật pháp của xã hội nhằm tránh những xung đột bạo lực không cần thiết.
  • Can thiệp: Tức là phản kháng trực tiếp khi đối phương có dấu hiệu sử dụng vũ lực để đàn áp. Tuy nhiên, những người tham gia phản kháng vẫn không được sử dụng hung khí và vũ lực mà chỉ được sử dụng các phương thức phi vũ lực như lời nói, áp phích, truyền đơn nhưng nội dung tuyên truyền phải đúng sự thật và được kiểm chứng.

Trên tổng thể, các phương cách này dựa vào 4 phương thức lớn sau:

1. Phương thức phản đối và thuyết phục bất bạo động, phương thức bất tuân dân sự.
2. Phương thức bất hợp tác kinh tế: như tẩy chay kinh tế và đình công (tuy nhiên, hoạt động động này phải theo tinh thần thượng tôn pháp luật)
3. Phương thức bất hợp tác chính trị
4. Phương thức can dự bất bạo động.