Lịch sử ngân hàng Việt Nam qua các thời kỳ

Trong 60 lịch sử phát triển, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Các hoạt động của Ngân hàng Quốc gia trong giai đoạn này đã góp phần đáng kể vào việc củng cố hệ thống tiền tệ độc lập của đất nước, phát triển sản xuất và lưu thông hàng hóa, và tăng cường của khu vực kinh tế nhà nước. , phục vụ cuộc kháng chiến chống Pháp.

 lịch sử ngân hàng Việt Nam qua các thời kỳ

1. Giai đoạn 1945 – 1951

Sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945, tình hình tài chính và tiền tệ của chính phủ cách mạng là vô cùng khó khăn: Kho bạc vừa qua VND1.25 triệu ở Đông Dương, một nửa trong số đó đã bị rách; ngân hàng đông dương vẫn nằm trong tay các nhà tư bản thuộc địa và luôn tìm cách tiêu diệt chúng tôi bằng tài chính và tiền tệ; Thu ngân sách quá nhỏ so với chi tiêu của chính phủ. … Trong tình hình đó, chính phủ đã kêu gọi mọi người gây quỹ dưới hình thức “Quỹ Độc lập”, “Tuần lễ Vàng”, đồng thời khẩn trương chuẩn bị phát hành tiền.

Để đáp ứng các yêu cầu của kháng chiến kinh tế, Chính phủ thành lập 3 vùng tiền tệ và cho phép phát hành tiền tệ khu vực. Nhiều biện pháp đã được áp dụng để tạo ra doanh thu cho ngân sách, chẳng hạn như việc ban hành các Nghị quyết, Trái phiếu quốc gia …Ngoài ra còn tăng cường cái khoản vay trả góp tại các ngân hàng khác để được hỗ trợ, xem chi tiết hơn về khoản vay trả góp “tại đây.

Trên 1947/03/02, các tổ chức tín dụng đầu tiên tại Việt Nam được thành lập với sứ mệnh giúp đỡ người dân phát triển sản xuất, hạn chế cho vay cho vay nặng lãi ở nông thôn, Đối với chính sách giảm dân và hướng dẫn mọi người đi vào làm ăn tập thể.

2. Thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ hai (tháng 2 năm 1951) đã đề xuất các chính sách và chính sách mới về kinh tế – tài chính, trong đó nêu rõ rằng: Các chính sách tài chính phải được lồng ghép chặt chẽ với các chính sách kinh tế; thành lập Ngân hàng Quốc gia, phát hành tiền tệ mới để ổn định tiền tệ, cải thiện chế độ tín dụng.

Về chính sách đó, vào ngày 06 tháng 5 năm 1951, tại Bồng hang động tại xã Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 15-SL thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, với các nhiệm vụ chủ yếu sau đây: Quản lý việc phát hành ghi chú và tổ chức lưu hành tiền tệ; quản lý Kho bạc Nhà nước; huy động vốn và cho vay sản xuất, lưu thông hàng hóa; quản lý các hoạt động bằng biện pháp hành chính; Kiểm soát ngoại hối và chiến đấu tiền tệ với kẻ thù.

Hệ thống tổ chức của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam bao gồm ngân hàng trung ương, ngân hàng liên ngân hàng và ngân hàng tỉnh, thành phố. Trụ sở chính của Ngân hàng Quốc gia là xã Đầm Hồng, huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang.