Hai Mùa Xuân

Đầu năm 1967

Chỉ c̣n một tuần lễ nữa là Tết Đinh Mùi. Hà-nội năm đó lạnh lắm. Bến Phà-đen lại càng lạnh v́ gió từ mặt sông Hồng đưa lên. Trong mặc áo bông trấn thủ, ngoài mặc áo bông xanh cổ lông mà tôi vẫn thấy người run bần bật. Bến tàu thủy đi Thái B́nh đây rồi, nhưng sao tối thui và im lặng thế. Đường lầy lội, tôi vừa dựng xe đạp th́ có bóng đèn pin loáng trên mặt tôi và tiếng cười vui của giám đốc công ty vận tải đường sông Hà-nội:

– Chào anh Trọng Kính*. Anh ra sớm thế. Nửa tiếng nữa mới nhổ neo.

Tôi chào lại và nh́n xuống bến, Chiếc tàu Giải Phóng nằm im ĺm. Một thuyền viên nhắc giùm tôi xe đạp lên boong tàu. Thấy tôi chẳng nói ǵ, ông giám đốc gặng hỏi:

– Anh có nhận xét ǵ không?

 – Được lắm. Ngoại trừ một ánh đèn pin vừa xong của anh c̣n th́ tối đen như mực.

Giám đốc cười hỉ hả:


– Này, xin báo cáo với anh là hành khách đă xuống hết rồi đấy, thế mà không một ánh lửa, không một tiếng ho. Chúng tôi đă chấp hành triệt để lệnh trên về pḥng không nhân dân. Máy bay Mỹ có đến lúc này th́ cũng mù tịt chẳng thấy ǵ hết. Anh nhớ nhấn mạnh điểm này trong bài viết của anh nhé.

Tôi ph́ cười:

– Các anh yên tâm. Chúng tôi có nhiệm vụ viết để động viên chứ có bao giờ phê b́nh đâu. Lănh đạo bộ giao thông, lănh đạo sở giao thông thành phố và cả bộ biên tập báo bên tôi cũng đă căn dặn rồi. Khác tư chút là khỏi in, anh đừng lo.

ùm… ùm

C̣i tàu thủy vang lên trên mặt sông, trầm trầm, loăng dần vào sương mù. Thuyền trưởng Bách từ dưới bến đi lên chào tôi:

– Báo cáo anh, được sự chỉ đạo của đảng ủy và ban giám đốc công ty, được học tập về điều lệnh pḥng không nhân dân, tàu Giải Phóng II chúng tôi đă có quyết tâm thư gửi lên Hồ chủ tịch, lên trung ương đảng, lên chính phủ, lên quốc hội, lên đảng đoàn và đồng chí bộ trưởng giao thông vận tải, lên tổng công đoàn, lên đoàn thanh niên lao động, lên thành ủy và ủy ban thành phố, lên đảng ủy và ban giám đốc sở giao thông vận tải thành phố, lên hội đồng pḥng không thành phố, lên liên hiệp công đoàn Hà-nội… kiên quyết không để xảy ra thiệt hại về tài sản và… và… về người nếu giặc Mỹ dám đánh vào bầu trời Hà-nội. Tất cả thuyền viên đều có quyết tâm thư hy sinh thân ḿnh cứu tàu, cứu máy nếu t́nh huống xấu nhất xảy ra.

Tôi không dám cười v́ lời chào tràng giang đại hải thế. Đă quen với lối ăn nói “mới” từ sau 1954 đến nay, dù là ở cấp bộ hay cấp tổ; dù là ở cơ quan văn hóa hay đội vệ sinh, th́ đều nói, nghĩ và viết theo cái mẫu có sẵn như vậy. Tôi cũng chẳng giận v́ cứ phải rét muốn chết mà cũng chưa được xuống tàu tránh gió, tránh lạnh. Cũng như bạn đọc báo, họ cũng phải đọc cái lối viết theo mẫu của chúng tôi, y như ta điền mẫu đơn vậy. Những chỗ chấm chấm th́ điền tên người, ngày, tháng, năm sinh; tên cha, tên mẹ và v.v…, chỉ khác nhau ở chỗ đó. Nếu tiêu đề các đơn từ có phần mở đầu là “Việt Nam dân chủ cộng ḥa, độc lập, tự do, hạnh phúc”; th́ mở đầu bài báo cũng có cái khuôn chung như vậy: “dưới sự lănh đạo sáng suốt của đảng và Hồ chủ tịch”.

Thuyền trưởng Bách bố trí cho giám đốc công ty vận tải đường sông Hà-nội – thủ trưởng của anh ta – và tôi ở pḥng của thuyên trưởng. Vừa lên boong tàu chưa được vài phút th́ tàu rời bến sau một hồi ùm… ùm… ùm. Tiếng c̣i tàu thủy nghe lúc nào cũng có cái vẻ chia ly, buồn bă. Tôi vào pḥng lái xem thuyền trưởng Bách lái tàu đi trong sương mù.Sương bao bọc làm cho sông chẳng có bến, có bờ, có đầu, có cuối. Mùa này nước sông cạn. Tàu chạy chầm chậm, tiếng máy run nhè nhẹ. Tôi nh́n trong đêm cái dáng cao lớn của thuyền trưởng và tưởng như con sông in trong đầu anh. Chợt có tiếng gơ vào kính, ông giám đốc làm hiệu gọi tôi ra. Chẳng cần nghe ông ta nói, tôi cũng hiểu đây là cái khoản “ấm bụng”, nghĩa là tư rượu “quốc lủi” bên Từ-sơn và… món nhậu th́ thật là tươm tất, phong phú.

Ca-bin thuyền trưởng rộng hơn chiếc giường cá nhân tư chút, mấy ô kính có rèm vải che kín. Khi cửa mở, ánh đèn vàng yếu ớt hắt ra. Mâm rượu đầy ắp, nào thịt chó luộc, dồi chó, cả một con ngỗng quay đă chặt, xếp đến tận miệng chiếc nồi nhôm, rồi lạc rang và các thứ rau với bánh đa nướng.

Ông giám đốc xoa tay cười khô khan (chắc là nước miếng đang tứa ra):


– Ta chiến đấu đi anh. Thằng Bách c̣n phải lái tàu.


– Lính vận tải của các anh, cả bộ cả thủy, đều hào phóng thật.

Ông ta ừ à, c̣n măi vắt chanh vào chén mắm tôm, rồi chế thêm một th́a rượu. Cái món nước chấm này bốc lên ngan ngát làm dạ dày cồn cào. Rượu uống bằng chén ăn cơm. Nó tê tê, êm êm, nóng ran trong miệng, ấm áp lan xuống họng, xuống bụng; mùa đông đang bị đẩy ra:

Tôi cắn một miếng giềng, cay cay đầu lưỡi. Cắn thêm một miếng ớt, cả miệng nóng lên. Miếng thịt chó luộc, phần má của con chó, ṛn mà không quá mỡ; vài cánh rau húng, vài hạt lạc và mẫu bánh đa lớp rớp trong miệng… làm thần kinh lưỡi đê mê, làm đầu dịu lại. Chợt ngửng mặt lên, phía đầu giường của thuyền trưởng, ngay sát trên đầu ông giám đốc ảnh của ông Hồ chí Minh lồng khung kính đặt trên bàn thờ tổ quốc, mặt đỏ au, gần bằng màu cánh hoa hồng cắm trong lọ cạnh đấy. Chỗ nào ông ấy cũng trườn mặt ra, tài thật! Tôi e hèm:

– Này ông giám đốc, ai ở sau lưng anh ḱa?


– “Cụ” chứ ai. “Cụ” cũng cảm thông cho lính tráng gian khổ quá nhiều phải “cải thiện” mới có sức phục vụ “Cụ” và cách mạng chứ.

Tôi vờ làm giọng nghiêm:

– Các anh mua rượu ở đâu? Tiền đâu mà các anh ăn tiêu như thế này?

Vẫn cái giọng lúng búng mồm đầy thịt:

– Tất cả đều là “lộc” của “Cụ” cả. Ai bảo “Cụ” cho phép mấy thằng tỉnh ủy Hà-bắc được nấu rượu lậu để nộp cho Ban bảo vệ sức khỏe của trung ương làm rượu thuốc. Ai bảo ban chủ nhiệm các hợp tác xă cho vợ con và tay chân đi buôn chuyến. Và… và… “Cụ” lại cho con quản lư đội tàu này…

Ông ta cười ha hả, hẳn lư thú v́ câu nói có duyên của ḿnh, bắn cả thức ăn trong miệng ra. Một mẩu thịt dính vào mặt tôi. Thế là cái hứng “nhậu” của tôi lắng xuống. Hết cơn cười, ông ta lại nói:

 – Cánh nhà báo các anh lạ tỏng ǵ nữa mà giả vờ. Lương thằng Bách mà có bảy chục một tháng th́ ăn ǵ, chưa nói đến thuyền viên, làm sao mà thi đua cho nổi, làm sao động viên chúng nó được. Cho nên tôi lờ đi, một thứ giao kèo ngầm mà, cho chúng nó chở ít hàng lậu, khách lậu, bán trộm ít dầu, nhớt để cải thiện. Miễn là chúng nó phải hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch là được. Anh xem, từ ngày tôi về làm giám đốc ở đây, ba năm liền là đơn vị “lao động xă hội chủ nghĩa” rồi đấy, năm rồi được nhận lẳng hoa của Hồ chủ tịch.

Đúng là tôi biết, c̣n nhiều hơn nữa, cả cái khoản tàu, các xà-lan tự hành phải “nộp cống” cho ông; rồi ông lại “nộp cống” lên ban giám đốc và đảng ủy của sở và sở lại “nộp cống” lên thành và bộ. Chỗ nào cũng thế cả. Có khác là từ tháng 8-1965, Mỹ ném bom ra miền Bắc, th́ cánh vận tải cả ô-tô, tàu thủy, xà-lan và tàu hỏa – là vớ bẫm nhất. Bọn họ giàu nhanh như thổi và dễ… lấy vợ. Giáo sư, bác sỹ và… nhà báo th́ vẫn cứ nghèo mạt rệp.

Tôi tụt khỏi giường, quờ chân t́m đôi dép lốp. Ông giám đốc hỏi:

– Đi đái hả? Lạnh lắm, hé cửa, ghếch ṇng súng đái mẹ nó ra ngoài boong ấy. Tôi vẫn làm thế đấy, không th́ cụt hứng v́ đi với lại.


– Anh ngồi lai rai đi, tôi tạt xuống xem hành khách sinh hoạt ra sao mới biết đường mà viết chứ.

Cánh cửa ca-bin khép lại mà tôi c̣n nghe tiếng cười “nịnh” của ông giám đốc đuổi theo. Báo chí tuy nghèo nhưng lúc này lại có sức mạnh, nhất là từ khi ông Hồ chí Minh đề ra việc biểu dương “người tốt việc tốt”, “người thật việc thật”, coi đây là một trong các biện pháp xây dựng “con người mới xă hội chủ nghĩa”. Những người được báo chí biểu dương dễ được nhận huy hiệu của “Hồ chú tịch”, đấy là sự thoát ra ẩn số khỏi cái đám quần chúng, để đứng ở ngơ vào “đại lộ quan lại”. Những đơn vị được biểu dương sẽ đạt thành tích thi đua, toàn đơn vị được nâng quỹ tiền khen thưởng, nâng quỹ phúc lợi và bộ tứ lănh đạo – đảng, chuyên môn, công đoàn, thanh niên – sẽ được nâng lương, đề bạt ở chức cao hơn hoặc cho phép đơn vị ph́nh to ra. Cho nên các tỉnh, các ngành đua nhau họp báo, chiều chuộng cánh báo chí. Họ tưởng mấy thằng cha viết báo quyền hành lắm đấy.Sự thật th́ họ có tiếp đăi nồng hậu hay không cũng chẳng sao… C̣n nhà báo chỉ ngồi nhà cũng viết được. V́ tất cả là dựa vào các loại báo cáo của các ngành – do tuyên huấn đảng ủy cơ sở soạn thảo – đă được đảng ủy các cấp thông qua, từ số liệu mọi loại chỉ tiêu, từ các cá nhân tích cực với bản tự khai và sơ yếu lư lịch, hàng chục con dấu đỏ ḷe loẹt. “Thực tế” đấy, cứ dựa vào đó mà viết. Đại loại là lúc đầu có khó khăn – hậu quả của xă hội cũ – nhưng rồi có sự lănh đạo của đảng ủy, mọi người nhớ đến “bác”, không muốn cho “bác” buồn, thế là dựa vào các nghị quyết của trung ương, các văn kiện đại hội đảng, ḷng căm thù “Mỹ-Ngụy” mà vươn lên. Kể cả khi viết về các ca mổ gan khô của bác sỹ Ty, đỡ những ca đẻ khó của bác sỹ Th́n ở bệnh viện C, cũng vẫn theo cái công thức chung như thế. Cho nên việc nhà báo đi cơ sở cũng giống như mấy diễn viên hôn gió khán giả, chỉ là tăng thêm phần thân mật mà thôi.

Tổ trưởng thuyền viên Tâm, có biệt danh Châu Xương v́ có hàm râu quai nón loại chổi xể, từ hầm hành khách bấm đèn pin cho tôi xuống thang. Đứng sát Tâm, tôi bảo anh cứ để tôi tự nhiên như một khách đi tàu.

Tối quá. Lối đi toàn chân người ch́a ra. Tôi đi về mạn đuôi, xin lỗi được t́m một chỗ ngồi. Giọng một bà cụ:

– Chú ngồi đây. C̣n rộng chán. Càng đông càng ấm chứ sao.

Tôi ngồi xuống cạnh bà cụ. Bàn tay bà cụ nắm vào tay tôi, lạnh, xương xẩu, sần sùi, hơi run run. Tôi khẽ hỏi cho có lệ:


– Mẹ đi đâu đấy?


– Tôi đi gần đây thôi – Hưng-yên ấy mà. Thế chú đi đâu?


– Con đi Thái-b́nh

Bà cụ thở dài:


– Nghe nói bên đó mất mùa. Lại đói nữa thôi. Chẳng biết đến bao giờ mới được bữa ăn no. Cũng tại thằng Mỹ cả thôi. Đến cụ Hồ mà cũng bữa cơm chỉ có vài quả cà xứ Nghệ. Thật, nghĩ đến cụ mà chỉ muốn khóc.

Tôi miễn cưỡng “vâng” mà ḷng ngao ngán tự hỏi: “ăn cơm với vài quả cà mà ngày càng béo múp đầu múp đuôi. Sao dân chúng c̣n khờ quá vậy”. Chợt nghĩ ḿnh cũng đang trong bộ máy tuyên truyền xuyên tạc của ông ta, tôi thấy ḿnh quả có tội với những người dân chân thật này. Rồi trong tôi lại nổi lên “thằng bào chữa cá nhân” rằng ḿnh đi nhiều nhưng chỉ viết những thứ vô thưởng vô phạt. Cho dù vậy, tôi vẫn tự véo đùi ḿnh để tự trừng phạt. Bỗng tay tôi chạm phải một cái đùi nóng hôi hổi qua lớp vải mỏng. Chẳng cần quay lại nh́n người ngồi bên, tôi cũng biết đây là một cô gái. Tôi vội rụt tay lại. Và, lúc này thoang thoảng qua mũi tôi một mùi là bưởi, bồ kếp có chút mùi lá sả. Tôi cúi xuống ngửi áo của ḿnh. Mùi nước đái con nít nhưng vẫn khai. Vợ chồng tôi vẫn phải lấy chiếc áo bông này đắp cho đứa nhỏ, mà con bé hay đái dầm quá thế mà áo th́ cứ để qua mùa đông mới giặt được. Nhà có mỗi cái chăn bông đắp hai vợ chồng và đứa con lớn. Tôi đi vắng th́ ba mẹ con được nằm chung. Nghĩ đến ḿnh hôi hám, tự nhiên ngượng với con người sạch sẽ ngồi bên.

Có tiếng chuông lanh canh, tàu như dừng lại. Hành khách lao xao đứng lên gọi nhau ư ới. Cửa bên hông tàu mở ra, gió lạnh thổi vào cùng với tiếng mời mua quà bánh. Đây là băi Tự-nhiên (thuộc Hưng-yên), tàu không vào bến trong mùa nước xuống nên khách phải đi đ̣ ra và vào bến. Các thuyền con của nhà hàng vây quanh tàu như một cuộc họp chợ. Tất cả đều làm ăn, trả tiền, th́ thào trong bóng tối, không một ánh đèn hay lửa.

Bà cụ ngồi bên tôi lên bến này. Tôi d́u bà cụ dậy, nắm chặt tay bà cụ trong tay, tôi cảm thấy một nỗi tê tái dâng lên. Bàn tay mẹ tôi bây giờ cũng gầy, xương xẩu và sần sùi như vậy, ấy thế mà có thời là hoa khôi kia đấy. Sự khốn cùng và thời gian đă tàn phá hết cả.

Cuộc mua bán, ăn uống, đưa hàng lên tàu, chuyển hàng xuống thuyền, những câu th́ thầm, những cái đập tay và tiếng cười cầu tài… phải gần nửa tiếng đồng hồ sau mới xong. Con tàu lại rồ mát nhè nhẹ. Chỗ bà cụ lên bến ngồi có hai thanh niên nồng nặc mùi rượu. Một anh chàng hơi thở như mùi lạc thối phả ngang mũi tôi.

– Bác ngồi xích vào chút nữa đi.

Tôi chưa kịp xích th́ anh thanh niên thứ hai đă nói:


– “Tàu là nhà, hành khách là chủ”, khẩu hiệu này dán từ ở pḥng bán vé cho xuống đến tàu, anh không thuộc hay sao mà cứ đ̣i ngồi thoải mái!!!

Cô gái cạnh tôi dịch một chút và khe khẽ với tôi:


– Anh dịch vào đây cho các anh ấy ngồi. Mỗi người chịu đựng một chút vậy.


 Tiếng nói này đúng là “dân Hà-nội” chính gốc. Nhẹ nhàng như tiếng gió, trong như tiếng hạc. Giọng cô ta nghe sao sang trọng và dơng dạc lạ thường.

Anh chàng ngồi cách tôi một người lè nhè giọng rượu:

– Chà, chà, có “phún” (tiếng lóng là phụ nữ) là vui rồi. Cô em giọng ngọt ngào như thế chắc là hát hay lắm. Đề nghị phục vụ bà con một bài đi.

Cô gái ngồi im, chợt cái đùi hơi cựa cậy. Tôi cảm thấy sức nóng từ đùi con gái trinh nguyên truyền qua tôi, tuy đă hai lần quần vải gai. Tiếng anh chàng hôi mùi lạc thối ồm ồm:

– Hát đi cô em. Thanh niên “ba sẵn sàng”, phụ nữ “ba đảm đang” mà nhát bỏ mẹ! Thế th́ đánh Mỹ sao nổi?

Tay bạn hùa theo:

– Các anh là giặc lái đây (tức lái xe ô-tô). Mới từ khu bốn lửa đạn về thăm gia đ́nh. Hát đi rồi về quê anh chơi, anh chi hết tiền tàu xe đi xe về lại c̣n quà cáp nữa, ừ đi!

Cả tàu im lặng, chỉ có tiếng máy rù rù và sóng nước ́ oạp đánh vào mạn tàu. Anh chàng hôi mùi lạc thối đập tay vào đùi tôi:

– Ông anh làm ơn đổi chỗ cho đàn em đi. Xin “các” ông anh hai gói Điện-biên giấy bạc hút cho vui. Được không?

Cầm tay anh ta, tôi đặt về đùi anh ta, nhưng cố t́nh bóp tay anh ta thật mạnh – thị uy sức mạnh mà – :

– Tôi cũng sắp tới bến rồi. Hai anh hát trước đi.

Hẳn là hiểu sự cảnh cáo “ḥa b́nh” của tôi, anh ta cười cười:

– Ông anh “tập tạ” hay sao mà khỏe thế. Bóp gẫy mẹ nó bàn tay câu cơm của đàn em rồi. Ừ, hát th́ hát.

Rồi quay sang bạn:

– Này Thọ sùi, tao với mày đồng ca bài “Mười yêu” đi.

Và, hai thanh niên mới – sản phẩm của ông Hồ chí Minh – cùng hát, đúng ra là gào lên:

“Một yêu anh có peugeot (1)


Hai yêu anh có Seiko (2) đàng hoàng


Ba yêu anh có bộ đồ sang


Bốn yêu hộ khẩu rơ ràng thủ đô


Năm yêu không có bà bô (3)


Sáu yêu Văn-điển ông bô sắp về (4)


Bảy yêu lái xe là nghề


Tám yêu phe phẩy, lè phè, nhởn nhơ


Chín yêu bạc lắm, tiền dư


Mười yêu dù lớn, dù vừa che thân (5)


Với em, tiêu chuẩn phu quân


Rơ ràng cho xứng mười phân vẹn mười


Bà con ơi, xin chớ có cười!”

Tiếng hát vừa dứt, hai anh chàng tự vỗ tay tán thưởng trước. Một số khách đi tàu cũng

vỗ tay theo. Anh chàng “lạc thối” lớn tiếng:

– Ngồi đây mới biết là c̣n sống về lễ ông bà, ông vải ngày Tết bà con ạ. Thuốc lá Điện-biên bao bạc đây, xin mời bà con hút một điếu đoàn kết cho vui.

Cả tàu bỗng nhao lên gọi phần thuốc được mời. Anh chàng lễ phép mời tôi và cô gái bên cạnh. Có tiếng Tâm “Châu Xương” sang sảng:

– Lệnh pḥng không, cấm lửa bà con ơi. Đề nghị triệt để chấp hành điều lệnh pḥng không nhân dân khi đi tàu.

Bạn anh “lạc thối”, có tên Thọ sùi, nổi giận:


– Đéo cho hút th́ thôi, bà con giữ làm kỷ niệm năm hết Tết đến vậy.

Tiếng Tâm nạt lại:

– Đề nghị đồng chí ăn nói đàng hoàng, đừng văng tiếng Đức như thế.


– Nói tiếng Cu-ba, Cu-mẹ được không?

Mấy người già giàn ḥa. Tâm bỏ đi, c̣n hai anh chàng “giặc lái” vẫn ấm ức văng tục một lúc nữa.

Tôi chợt nhớ đến tiếng “đồng chí”, giờ đây nó được dùng vào lúc người ta định đối phó với nhau, định chụp cho nhau các kiểu mũ. Lại cũng một sản phẩm ngôn từ nhăn hiệu Hồ chí Minh.

Cô gái khẽ nói với tôi:

– Anh làm ơn cho em lách ra, sắp tới bến em phải lên rồi.

Tôi như hụt hẫng:


– Vậy hả… chúc cô năm mới mọi điều may mắn tốt lành nhất.


– Em cám ơn anh. Xin được kính chúc anh và gia đ́nh sức khỏe, công tác tốt.

Cô gái cúi người nhặt chiếc túi xách dưới gầm ghế, mớ tóc lao xao và hương lá bưởi, bồ kếp lại bay lên. Tôi khẽ hít đầy lồng ngực.

Tôi lên boong tàu. Nghe tiếng chèo thuyền lơm bơm mà chẳng thấy thuyền. Cái lạnh ngấm nghía. Cái lạnh tái tê. Khi tàu chuyển động, tôi đi về pḥng thuyền trưởng. Mâm nhậu chỉ có ḿnh ông giám đốc, tay c̣n cầm cái chân chó, bát nước sáo trong mâm, ghếch đầu dưới bàn thờ ông Hồ chí Minh, đang ngáy như Trương Phi.

Vừa kịp ngồi lên giường th́ một thuyền viên mở cửa bê cho tôi tô sáo chó nóng hôi hổi. Tôi húp một miếng mà chẳng cảm thấy mùi vị ǵ. Thoang thoảng bên mũi tôi như vẫn c̣n mùi lá bưởi, mùi bồ kếp và lá sả. Tôi đưa điếu thuốc lá cho anh thuyền viên. Anh ta đưa lên mũi hít hít và cười thú vị:


– Điện biên giấy bạc đây. Tiêu chuẩn Vân-hồ (6) đấy. Em xin anh.

Tôi thấy ḿnh như đang đi trong sương mù, không đầu, không đuôi, không bến, không bờ: người đầy tớ vĩ đại nhất của nhân dân đang trên bàn thờ “Tổ quốc”; người đầy tớ trung thành của nhân dân đang nằm ngáy o o, tay c̣n cầm chiếc chân chó nấu sáo. Những người chủ của đất nước đang chen nhau dưới hầm tàu hôi hám. Và tôi, người có lư lịch là thành phần “bóc lột” đang được giai cấp công nhân phục dịch, vâng dạ.