Tri thức Việt Nam dưới chế độ cộng sản

Ở nước ta ngày nay, có khá nhiều người được xã hội xem xét, hoặc bản thân họ, là trí thức. Nhưng “trí tuệ là gì?” Dường như không bao giờ giải thích rõ ràng. Có thể có nhiều trí thức, nhưng những cá nhân này đã tập trung (chủ yếu qua các diễn đàn, ý kiến ​​công chúng) vào một tầng lớp xã hội như những người trí thức? Đặc điểm và đặc điểm của trí thức Việt Nam là gì? Vai trò và trách nhiệm của trí thức trước số phận của nhân dân chúng ta trong kỷ nguyên mới – kỷ nguyên của nền kinh tế tri thức, kỷ nguyên hội nhập toàn cầu, là như thế nào?

Mỗi câu hỏi trên đặt ra một cuộc thảo luận rất nghiêm túc và thú vị là điều quan trọng để huy động sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân trong quá trình đổi mới, hội nhập và phát triển. . Để đi đến sự đồng thuận phải mất thời gian. Ở đây chúng tôi chỉ hỏi câu hỏi và đề nghị mở, hy vọng độc giả đọc với nhau.

Trí tuệ là ai? Trong một thời gian dài, có một khái niệm đơn giản ở nước ta: Công nhân trí tuệ là trí thức, chỉ để phân biệt mình với người lao động chân tay như công nhân và nông dân. Một ý tưởng đơn giản hơn là tất cả những người có trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên là trí thức. Trong tác phẩm “Modifying Work” năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng định nghĩa này. Theo tôi hiểu, ông đã cố tình giải thích khái niệm này (cũng như một số khái niệm khác) một cách rất đơn giản, dễ hiểu, phù hợp với trình độ học vấn của nước ta vào thời điểm đó. Hôm nay, chúng ta không nên quá cẩn thận khi giữ định nghĩa này của Bác Hồ.

Quan niệm về trí thức trên đây là phổ quát đến với các xã hội văn minh cận, hiện đại. Riêng ở nước ta, từ khi có lịch sử thành văn cho đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945, quan niệm này có lẽ chỉ thích hợp trong một giai đoạn phát triển ngắn ngủi, từ đầu đến giữa thế kỷ 20, khi xuất hiện tình huống giới trí thức mới (dùng chữ quốc ngữ) có cơ hội trở thành một tầng lớp xã hội khá độc lập với chính quyền về hoạt động nghề nghiệp và chính kiến. Ngoài giai đoạn này, chúng tôi e rằng chưa bao giờ ở nước ta thực sự có một tầng lớp trí thức như cách hiểu thông thường của thế giới.

Thường ở ta, trí thức được gán một cách không đúng cho những người gọi là “có học”, chỉ xuất hiện ở xã hội Việt Nam ở buổi đầu công nguyên từ khi nhà Hán du nhập Nho giáo vào Việt Nam với mục đích giáo hóa và đào tạo quan lại bản xứ. Sau khi giành được độc lập vào năm 939, các triều đại phong kiến ngày càng tôn sùng Nho giáo; và đến đời nhà Trần (thế kỷ 13) thì Nho giáo đã được coi là hệ tư tưởng chính thống cho đến hết các triều Nguyễn (đầu thế kỷ 20). Suốt gần một nghìn năm ấy chỉ có một thứ được dạy và được học (một cách có hệ thống) là Nho giáo (khác với sự chuyên biệt hạn hẹp của Phật giáo và Đạo giáo). Các Nho sĩ sau khi đỗ đạt sẽ được bổ nhiệm làm các quan lớn, nhỏ trong hệ thống cai trị của Nhà nước phong kiến. Các Nho sĩ thi trượt thì trở lại làng quê vừa dạy “chữ thánh hiền” như một kế sinh nhai, vừa “dùi mài kinh sử” đợi kỳ thi sau, đợi được đi làm quan để “cả họ được nhờ”!